b52

Chiến dịch Linebacker II – Trận Điện Biên Phủ trên không

Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự trận chiến cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến tranh Việt Nam.

b52
Một chiếc B-52 trong chiến dịch

Giống như việc các lực lượng Hoa Kỳ sử dụng hai đầu đạn hạt nhân nhằm vào thường dân Nhật để chấm dứt Thế chiến II ở Thái Bình Dương, các chỉ huy Mỹ đã triển khai một chiến dịch ném bom ồ ạt, nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì một lí do rất nực là chấm dứt chiến tranh.

Trước khi kế hoạch ném bom này được thực hiện nhằm buộc chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải đi vào khuôn khổ hòa bình, đàm phán hòa bình bí mật tại Paris giữa chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và chính quyền Nixon đã diễn ra trong ba năm.

Vào tháng 10/1971, chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa thay đổi lập trường đàm phán nhằm đạt được thỏa thuận với Nixon và Henry Kissinger. Một trong những lý do thay đổi này là do chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa tin rằng việc đạt được một thỏa thuận tại thời điểm đó sẽ dễ dàng hơn tại thời điểm phải sau cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ.

Ngụy quyền Sài Gòn không tham gia vào các cuộc đàm phán và chỉ trích Mỹ ra các quyết định quan trọng sau lưng chúng. Thiệu dọa xé bỏ hiệp ước hòa bình trừ khi có những sửa đổi theo ý chúng.
Vào tháng 11, một bản danh sách đòi hỏi 69 thay đổi đã được trao cho phái đoàn chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Các đề xuất quá mức vô lý khiến chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã phải ngừng các cuộc đàm phán hoàn toàn.

map
Sơ đồ chiến dịch

Nhưng vì tuyên bố mà Kissinger đã đưa ra cho báo chí nhằm trấn an dư luận Mỹ về hòa bình đang tới gần, Nixon cho rằng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gây sức ép buộc chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trở lại bàn đàm phán tìm kiếm một thỏa thuận hòa bình. Công chúng Mỹ mòn mỏi trông đợi điều thỏa thuận này vì họ đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến tranh hao tài tốn của thiệt người kéo dài trong suốt 10 năm.

Và đó chính là lý do tại sao, vào tháng 12 năm 1972, Nixon đã ra lệnh triển khai chiến dịch ném bom 12 ngày được gọi là Chiến dịch Linebacker II, còn được gọi là vụ Christmas Bombings (Chiến dịch ném bom đêm Giáng sinh) hoặc Vụ oanh tạc tháng 12. Mục tiêu của chiến dịch này là buộc Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam phải trở lại bàn đàm phán và để chứng minh cho Thiệu rằng Mỹ ‘bảo vệ VNCH bằng mọi khả năng nếu Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định hòa bình’.

crew
Các phi đội ném bom B-52 của Không lực Hoa Kỳ tại Căn cứ Không quân Andersen ở Guam được thông báo về Chiến dịch Linebacker II.

Vì Chiến dịch Linebacker, người Mỹ vận dụng một số lượng đáng kể máy bay ném bom B-52. Bộ Tư lệnh Không quân Chiến thuật (SAC) ban đầu không muốn vận dụng tới một nửa lực lượng máy bay ném bom vào một chiến dịch vì một số lý do.

Lý do thứ nhất là bởi vì họ không muốn nguy cơ phá hủy những chiếc máy đắt tiền này và hi sinh những phi công được huấn luyện tốt. Lý do thứ hai là bởi vì dây chuyền sản xuất cho những pháo đài bay đã bị đóng cửa, và máy bay thay thế sẽ không thể được sản xuất.

Tuy nhiên, có những người trong Bộ Tư lệnh Không quân Chiến thuật SAC hoan nghênh cơ hội để thử nghiệm B-52 chống lại hệ thống phòng không tinh vi của Liên Xô nhằm chuẩn bị sẵn sàng nếu Chiến tranh Lạnh bùng nổ thành xung đột vũ trang.

Các thành phần hiếu chiến trong Lực lượng Không quân Hoa Kỳ đã thắng thế, và chiến dịch Linebacker II đã được triển khai nhằm rải thảm bom oanh tạc cả dân thường và các mục tiêu quân sự xung quanh khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Từ ngày 18/12 đến ngày 29/12, máy bay ném bom B-52 đã rải bom nhằm vào hai khu vực này, sử dụng những chiếc máy bay cánh cụp cánh xòe F-111 tấn công vào các địa điểm tên lửa đất đối không SAM và các sân bay quân sự vào ban đêm.

Trong chiến dịch, máy bay A-7 và F-4 thực hiện các cuộc tấn công bằng bom bằng các kỹ thuật định vị bằng mắt thường hoặc tầm xa, tùy thuộc vào thời tiết, trong khi những chiếc EB-66 & EA-6 đóng vai trò hộ tống cho các máy bay ném bom, còn những chiếc KC-135 được sử dụng để tiếp nhiên liệu.
Ba nhiệm vụ đầu tiên của Chiến dịch Linebacker II theo đúng kế hoạch, bắt đầu vào ngày 18/12. Vào đêm đầu tiên, 129 máy bay ném bom đã xuất kích, cùng với 39 máy bay hỗ trợ hộ tống cũng như nhằm gây nhiễu radar.

b52
Chiếc B-52G-125-BW Stratofortress của lực lượng Không quân Hoa Kỳ (s / n 59-2582) thuộc Không đoàn Không gian 72 tại Căn cứ Không quân Andersen, Guam.

Bom đã đánh trúng mục tiêu tại ba sân bay của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như một khu nhà ga Yên Viên. Đợt ném bom thứ hai và thứ ba nhắm mục tiêu quanh Hà Nội, và ba chiếc máy bay bị tên lửa đất đối không SAM bắn hạ.

Chiều cùng ngày, một chiếc máy bay tiếp tục bị bắn rơi trong khi đang tiến hành một cuộc ném bom nhằm vào các tòa tháp phát thanh của Đài truyền hình Hà Nội.

Trong đêm tiếp theo, 93 phi vụ đã được thực hiện nhằm oanh tạc các địa điểm như nhà máy nhiệt điện Thái Nguyên, các kho hàng tại Uy Nỗ và nhà ga Yên Viên. Lần này, không có máy bay ném bom nào bị phá hủy, mặc dù một số đã bị hư hỏng.

Nhưng Mỹ đã phải chịu báo ứng, khi lực lượng Không quân Mỹ tung ra các cuộc tiêm kích vào đêm thứ ba. Do số lượng thương vong hạn chế, nên các nhà lãnh đạo cấp cao của Mỹ nghĩ rằng mọi thứ sẽ diễn ra suôn sẻ như các đêm trước.

Một số yếu tố, từ các chiến thuật lặp đi lặp lại, đến khả năng gây nhiễu hạn chế đã dẫn đến thất bại thảm hại của Mỹ. Tám máy bay B-52 đã bị bắn rơi trong đêm sau khi quân đội nhân dân Việt Nam dự đoán chính xác kiểu tấn công của những chiếc máy bay ném bom và phóng 34 tên lửa vào khu vực tấn công. Chỉ có hai trong số 8 máy bay trúng đạn được giải cứu.

crew
Thiếu tá Robert Lodge và Thiếu tá Roger Locher trong buồng lái của máy bay F-4D Phantom II và bị bắn hạ vào sáng ngày 10/5/1972.

Việc bắn hạ 12 máy bay ném bom đã khiến Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật Mỹ SAC thay đổi chiến thuật. Người Mỹ đã dự đoán phải chịu thêm nhiều vụ tấn công của các phi công chiến đấu MiG và không thay đổi đường bay, độ cao hoặc đường bay để thông báo cho các mối đe dọa từ máy bay trên mặt đất.

Tại thời điểm này, Nixon đã ra lệnh mở rộng chiến dịch kéo dài thêm ba ngày, và các chiến thuật của Mỹ đã thay đổi đáng kể. Với sự thay đổi này, số lượng thương vong đã giảm đáng kể do các máy bay tiêm kích F-111 đã được gửi đi nhằm ngăn chặn tên lửa đất đối không SAM, trong khi các vụ đánh bom máy bay có xu hướng tránh khỏi khu vực Hà Nội.

Bi kịch thực sự của chiến dịch ném bom xảy ra là khi bệnh viện Bạch Mai bị trúng một quả bom: 28 bác sĩ, y tá và dược sĩ đã hi sinh. Thảm kịch này chịu sự lên án gay gắt và mạnh mẽ của các nhà hoạt động vì hoà bình, làm dấy lên một làn sóng phẫn nộ mới trong nội bộ Hợp chủng quốc và trên thế giới.
Chiến dịch Linebacker II đã được nới lỏng trong khoảng thời gian 36 tiếng trong dịp Giáng sinh, nhưng sau đó các lực lượng Hoa Kỳ đã tăng cường nỗ lực đánh bom vào ngày 29 tháng 12, tại thời điểm này có rất ít mục tiêu chiến lược còn lại ở miền Bắc Việt Nam.

bach mai hospital
Bệnh viện Bạch Mai sau cuộc ném bom

Bảy ngày sau đó, vào ngày 22/12, các nhà ngoại giao ở Washington đã yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở lại bàn đàm phán.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý, nhưng tuyên bố rõ ràng rằng đó không phải là vì các vụ đánh bom dữ dội. Tuy nhiên, Nixon đình chỉ việc ném bom vào ngày 30/12, trong khi Kissinger đồng ý với các điều khoản ban đầu của lệnh ngừng bắn đã được đưa ra vào tháng 10.

Sau vài lần thuyết phục, Thiệu đồng ý với những điều khoản này và một thỏa thuận cuối cùng đã kí vào ngày 9/1/1973. Tổng cộng, có 741 phi vụ ném bom đã được thực hiện, và hơn 15.000 tấn vật liệu nổ đã được rải xuống; 33 phi hành đoàn B-52 đã thiệt mạng hoặc mất tích, 33 phi công đã bị bắt làm tù binh, và 26 phi công đã được giải cứu.

Và tất cả thảm họa này xảy ra chỉ vì sự cố phá vỡ đàm phán trong vài tháng trước đó. Thực tế bi kịch của câu chuyện nằm ở chỗ các điều khoản đã kí kết vào tháng giêng gần như giống hệt với những điều khoản bị bác bỏ vào tháng 3. Tất cả những tổn thất nặng nề này chẳng có ý nghĩa gì.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *