Bom Napan - vũ khí hủy diệt trong chiến tranh Việt Nam

Bom Napan – vũ khí hủy diệt trong chiến tranh Việt Nam

Chất lỏng dễ bắt cháy – Bom Napan đã được sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam như thế nào?

Trong thế chiến thứ nhất, nhiều loại vũ khí mới đã được đưa vào sử dụng như phương tiện cơ giới mới: xe tăng và máy bay chiến đấu.

Nhưng điều mà mọi người ít  biết đến hơn là những chiếc súng phun lửa đầu tiên cũng được sử dụng trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Tuy nhiên, chúng hoạt động thiếu hiệu quả, vì phải sử dụng xăng đốt, là loại nhiên liệu gây cháy nhanh và cũng gây ra một số thiệt hại phụ khác.

Bom Napan
Bom Napan tại Việt Nam

Vũ khí này tiếp tục được cải tiến trong chiến tranh thế giới thứ 2. Cơ quan Chiến tranh Hóa học của Hoa Kỳ đã thêm cao su vào xăng để sản xuất hỗn hợp chất có thể đốt cháy lâu hơn, khó bị đổ ra và dính vào nạn nhân, gây thương tích tử vong.

Đây có vẻ như là một giải pháp mới cho quân đội Hoa Kỳ, nhưng khi họ bước vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương, cao su tự nhiên trở nên khan hiếm, và Quân đội Mỹ buộc phải tìm một chất thay thế phù hợp. Đó là lí do tại sao chất napan ra đời.

Trong khoảng thời gian từ năm 1942 đến năm 1943, một nhóm nhà khoa học hàng đầu của Harvard do Louis Fieser đứng đầu đã chế tạo ra hỗn hợp muối nhôm của axit palmitic và axit aphthenic bổ sung vào thành phần của xăng. Vũ khí này lần đầu tiên được thử nghiệm trong các vụ đánh bom ở Berlin và sau đó là ở Tokyo. Tại Tokyo, vũ khí này  gây ra sự hoảng loạn hàng loạt sau khi đám cháy rừng khổng lồ gây thương vong 100.000 người.

Tàu thuộc Hải đội trên sông của Mỹ phun hỗn hợp napam bị đốt cháy từ một chiếc vòi phun nước trên sông ở Việt Nam
Tàu thuộc Hải đội trên sông của Mỹ phun hỗn hợp napan bị đốt cháy từ một chiếc vòi phun nước trên sông ở Việt Nam

Sau đó, ở Hàn Quốc, quân đội Hoa Kỳ tuyên bố rằng napan là “vũ khí xuất sắc nhất”, giúp giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống lại Bắc Triều Tiên và quân Trung Quốc.

Napan trở thành vũ khí cần thiết của bất kì một lực lượng quân đội hiện đại nào, mặc dù chúng gây ra những hậu quả thảm khốc, phi nhân tính nhất. Hiệu quả sử dụng vũ khí này đã phủ nhận tính tàn ác của nó. Trên thực tế, napan có thể gây ra ngộ độc carbon monoxide (CO) khi sử dụng trong môi trường kín chưa cần đến hỏa hoạn. Tác động của cacbon monoxit (CO) đã được biết đến sau khi kết thúc Thế chiến II, với việc đây là một trong những khí chính được sử dụng để đầu độc các nạn nhân ở các trại tập trung .

Ở ngoài trời, napan gây ra các vết bỏng nghiêm trọng trên toàn cơ thể, mức độ bỏng nặng hơn nhiều so với bị lửa đốt thông thường. Da người được phủ một lớp magma nhớt giống với nhựa đường. Napan gây ra các vết thương sâu không thể hồi phục. Khi tiếp xúc với người, nó sẽ ngay lập tức dính vào da và làm tan chảy  thịt. Không có cách nào để dập lửa , ngoại trừ việc cách li không khí, gây ra đau đớn không chịu nổi. Trong hoảng loạn, nhiều nạn nhân sẽ cố gắng lau đi, nhưng điều này chỉ khiến vết cháy lan rộng, mở rộng diện tích bị bỏng.

Tất cả những điều này làm cho napan thực sự phổ biến trong số những người dùng của nó và cơn ác mộng tồi tệ với các nạn nhân. Ở Việt Nam, người Pháp đã sử dụng napan đầu tiên và sau đó là người Mỹ. Chính người Mỹ đã sử dụng nó rộng rãi, gây ra rất nhiều thiệt hại về mặt pháp lý do thực tế là lửa đã được thả ra hầu như không thể dập tắt được.

Sau khi được tuyên bố là vũ khí mang lại chiến thắng của Chiến tranh Triều Tiên, napan trở thành một phần của kho vũ khí Hoa Kỳ ngay từ khi bắt đầu cuộc xung đột ở Việt Nam. Trong thập niên từ 1963 đến 1973, 388.000 tấn napal đã bị thả xuống Việt Nam. Khối lượng này gấp mười lần khối lượng napan được sử dụng ở Hàn Quốc (với 32.357 tấn) và gấp gần 20 lần khối lượng đã được sử dụng ở Thái Bình Dương (16.500 tấn).

Thứ nhất, chúng được sử dụng thông qua máy phun lửa của Quân đội Hoa Kỳ và lực lượng nguỵ quân nhằm dọn sạch những căn hầm chứa, hố ẩn nấp và hào. Ngay cả khi ngọn lửa không thâm nhập vào trong hầm trú ẩn, ngọn lửa cũng sẽ tiêu thụ hết oxy và gây ngạt thở cho các sinh vật ở bên trong.

Binh lính Mỹ sử dụng thiết bị phun lửa ở Việt Nam
Binh lính Mỹ sử dụng thiết bị phun lửa ở Việt Nam

Các báo cáo cho biết rằng các máy phun lửa thường được sử dụng để dọn sạch hoặc tiêu diệt “các ngôi làng của kẻ thù”, có nghĩa là chúng cũng có thể được sử dụng để chống lại dân thường. Napan đã trở thành một vũ khí tâm lý, gây hoảng sợ cho đối thủ khi tạo ra địa ngục trên mặt đất sau khi sử dụng chúng.

Trong chiến tranh Việt Nam, các máy bay ném bom của Mỹ bắt đầu thả  bom napan. Việc thả bom napan cho thấy có sức tàn phá hơn nhiều so với các thiết bị phun lửa . Bom napan có thể nhấn chìm một diện tích 2.300 mét vuông trong biển lửa không thể kiểm soát được. Ném bom napan bằng máy bay di chuyển nhanh không đảm bảo tính chính xác cao. Điều này dẫn đến nhiều thương vong dân sự.

Em bé Napalm 
Em bé Napan

Một trong những bức ảnh mang tính biểu tượng nhất cho Chiến tranh Việt Nam mô tả trẻ em chạy trốn khỏi cuộc tấn công napan, rất đáng sợ. Cô bé trong bức ảnh – tên là Kim Phúc – đã nói sau đó:

Napan là nỗi đau khủng khiếp nhất mà bạn có thể tưởng tượng. Nước sôi ở 100 độ C (tương đương 212 độ F). Napan tạo ra nhiệt độ từ 800 đến 1.200 độ C (tương đương 1.500-2.200 độ F).

Với công chúng Hoa Kỳ, Napan đã trở thành biểu tượng của tất cả những xấu xa của cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù chúng ta biết rằng bom Napan đã được sử dụng trước đó ở Thái Bình Dương và Hàn Quốc, nhưng phải đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam, những thiệt hại khủng khiếp của bom napan mới được phát sóng rộng rãi trên truyền hình, những hậu quả của nó mới được công chúng thấy trực tiếp

Phong trào chống chiến tranh bắt đầu phản đối việc sử dụng napan vào năm 1966, kêu gọi tẩy chay Công ty Hóa chất Dow – là công ty sản xuất napan cho quân đội Mỹ.

Mãi cho đến năm 1980, Công ước Liên Hợp Quốc về các loại vũ khí thông thường (The United Nations Convention on Certain Conventional Weapons – CCWC) đã tuyên bố việc sử dụng Napan đối với  dân thường là một tội ác chiến tranh. Một số quốc gia đã không ký vào bản thoả thuận này. Dù vậy thoả thuận này cũng trở thành luật pháp quốc tế vào năm 1983.

Tuần hành chống chiến tranh Việt Nam năm 1967
Tuần hành chống chiến tranh Việt Nam năm 1967

Hoa Kỳ đã ký kết Công ước này vào ngày 21 tháng 1 năm 2009, khoảng 25 năm sau khi Công ước được Đại hội đồng thông qua. Tổng thống Barack Obama đã kí Công ước ngay ngày đầu tiên sau khi tuyên thệ nhậm chức trong ngày làm việc. Tuy nhiên, việc phê chuẩn của Mỹ lại được bảo đảm rằng Mỹ có thể bỏ qua hiệp ước theo ý của mình với mục đích cứu sống người dân.

Sau chiến tranh ở Việt Nam, Napan đã thấy sử dụng chủ yếu ở Tây Sahara (1975-1991), Iran (1980-1988), Irac (1980-1988, 1991), Angola (1993), Argentina (1982) và Nam Tư (1991-1996).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *