Lính dù Mỹ

Operation Junction City – Chiến dịch đổ bộ đường không lớn nhất sau thế chiến thứ 2 của Mỹ

Chiến dịch Junction City – Operation Junction City là một chiến dịch quân sự kéo dài 82 ngày do các lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa (RVN) tiến hành vào ngày 22/2/1967 trong Chiến tranh Việt Nam.

Đây là hoạt động quân sự đường không lớn nhất của Hoa Kỳ kể từ Chiến dịch Varsity tháng 3 năm 1945, hoạt động không quân lớn duy nhất của Chiến tranh Việt Nam, và là một trong những chiến dịch lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Cuộc hành quân được đặt tên theo thành phố Junction, Kansas, quê nhà của chỉ huy chiến dịch.

Mục đích của chiến dịch là xóa sổ các căn cứ đầu não của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (GPMNVN) ở Chiến khu C. Theo một số tài liệu của các nhà phân tích Mỹ tại thời điểm đó, khu vực này như trụ sở chính, tương đương “Lầu năm góc” thu nhỏ với đầy đủ công cụ như máy đánh chữ, tủ tài liệu, nhân viên cấp cao.

Thật ra, sau khi chiến tranh kết thúc, tài liệu công bố cho thấy đây chỉ là một nhóm nhỏ và di động, thường trú ẩn tại các cơ sở đại phương, tại một thời điểm không dài, không phải một cơ quan đầu não cố định.

Chiến thuật của chiến dịch là “búa và đe”, khi các lực lượng không quân “tràn qua” trụ sở của quân GPMNVN, họ phải rút ra và rơi vào “cái đe” của các lực lượng bố trí sẵn.

Tổng số lực lượng dành cho chiến dịch này bao gồm hầu hết Sư đoàn Bộ binh số 1 và số 25, các lữ đoàn không quân của Lữ đoàn Dù 173 và xe thiết giáp của Trung Đoàn thiết giáp số 11.

Lính dù đổ bộ
Lính dù đổ bộ

Chiến dịch bắt đầu vào ngày 22/2/1967 với sự tham gia của hai sư đoàn bộ binh, chỉ huy bởi Thiếu tướng William E. DePuy (sư số 1) và Thiếu Tướng Frederick C. Weyand (sư số 25). Cùng lúc đó, 8 tiểu đoàn với 249 máy bay trực thăng và 3 phi đoàn C-130 vận tải đã đưa 845 lính nhảy dù vào trận.

Đây là lần đổ bộ lính dù duy nhất trong Chiến tranh Việt Nam và lớn nhất kể từ Chiến dịch Tomahawk trong chiến tranh Triều Tiên.

Ban đầu, các hoạt động quân sự đã thành công khi tiến đến các vị trị đã định mà không gặp trở ngại lớn nào, lực lượng GPMNVN dường như không có cơ hội trốn thoát.

Trên thực tế, các lực lượng GPMNVN, có tính di động cao và nhỏ lẻ đã di dời trụ sở chính sang Campuchia và đưa ra nhiều cuộc tấn công nhằm gây thiệt hại cho người Mỹ.

Vào ngày 28/2 và ngày 10/3, xuất hiện hai cuộc đụng độ khốc liệt với lực lượng Hoa Kỳ: trận Prek Klok I và trận Prek Klok II, nơi mà Hoa Kỳ được hỗ trợ bởi các cuộc không kích mạnh mẽ và hỗ trợ lớn của pháo binh lớn đã đẩy lùi các cuộc tấn công của Việt Cộng nhưng kết quả chiến lược tổng thể đã gây thất vọng.

Xe cơ giới M113 chở lính Mỹ
Xe cơ giới M113 chở lính Mỹ

Ngày 18/3/1967, Tướng Bruce Palmer, Jr. thay thế tướng Seaman, bắt đầu giai đoạn 2 của chiến dịch.
Mục tiêu lần này là phía đông và được thực hiện bởi các đơn vị cơ giới , Sư đoàn Bộ binh số 1 và trung đoàn thiết giáp số 11, tăng cường thêm Lữ đoàn 1 Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Giai đoạn khốc liệt nhất của chiến dịch bắt đầu với trận Bàu Bàng ngày 19/3, khi Trung Đoàn 273 đã gây tổn thất cho Trung đoàn Thiết giáp Hoa Kỳ, mặc dù cuối cùng đã buộc phải rút lui bởi một hỏa lực vượt trội.

Ngày 21/3 và 1/4, lực lượng GPMNVN mở 2 cuộc tấn công lớn vào Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 25, và hai vụ tấn công đều bị đẩy lùi, sư đoàn 9 của GPMNVN suy yếu và phải rút lui an toàn về các khu vực giáp biên giới với Campuchia.

Ngày 16/4, Bộ Tư Lệnh vùng 2 của Hoa Kỳ đã đồng ý với VNCH quyết định tiếp tục giai đoạn thứ ba của Chiến dịch Junction City. Đến ngày 14/5, một số đơn vị thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, đã tiến hành các cuộc truy kích vào các ngôi làng, các khu vực tình nghi và thu được một lượng lớn vũ khí nhưng không thấy các đơn vị GPMNVN.

Kết quả chiến dịch

Lực lượng GPMNVN bị thiệt hại đáng kể, trong đó có một lượng lớn đồ dùng bị thu hồi: 810 tấn gạo, 600 tấn vũ khí nhỏ, 500.000 trang tài liệu.

Theo tính toán của Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ, Sư Đoàn 9 của quân GPMNVN bị suy yếu nghiêm trọng với khoảng 2.728 người thiệt mạng, 34 người bị bắt và 139 người đào ngũ, 100 vũ khí tự tạo và 491 vũ khí cá nhân đã bị bắt.

Lính dù Mỹ
Lính dù Mỹ

Theo Đại tướng William Westmoreland, trong chiến dịch này, con số thiệt hại của Mỹ là 282 lính chết và khoảng 1.560 bị thương (cùng với vài trăm thương vong của VNCH); 107 thiết vận xa, 57 xe tăng, 28 xe vận tải và 11 khẩu đại bác bị phá hủy hoặc hư hại.

Phía mặt trận GPMNVN tuyên bố trong trận này họ đã loại khỏi vòng chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đã phá hủy hoặc gây hư hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân Mỹ – Việt Nam Cộng hòa.

Tuy vậy, trụ sở di động với một số lãnh đạo chủ chốt như Tướng Thanh, Trần Văn Trân, tướng Đỗ, đã nhanh chóng rút lui về Campuchia, tiếp tục hoạt động và gây tổn thất cho các nhà hoạch định chiến lược Hoa Kỳ.

Với lượng khổng lồ các nguồn lực và trang thiết bị đã sử dụng, bao gồm 366.000 quả pháo và 3.235 tấn bom, lực lượng Mỹ đã gây ra thiệt hại cho lực lượng GPMNVN và chứng minh được khả năng của lực lượng không quân và lực lượng cơ giới hóa của họ.

Mặc dù các kết quả chiến thuật, chiến dịch Junction City đã thất bại về mặt chiến lược khi bỏ lỡ các mục tiêu quan trọng nhất cũng như thất bại trong việc tạo ra đòn bẩy chiến lược dài hạn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *